TƯ DUY NHƯ NHÀ KINH TẾ HỌC - ANNE ROONEY

Chúng ta không phải tiếp tục sản xuất nữa sao? (Trích Chương 10)

Chúng ta đều biết con người đang sống trong thời kỳ hậu công nghiệp. Tuy vậy, chúng ta sẽ sống thế nào nếu không có sàn xuất chế tạo?

Nếu bạn có một chiếc điện thoại thông minh, một chiếc máy tính bảng và một chiếc khóa xác thực điện tử trong túi, thì có vẻ bạn không thuộc nhóm người ở thời kỳ hậu công nghiệp. Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế học và xã hội học, “hậu công nghiệp” ám chỉ giai đoạn mà nền kinh tế không còn phụ thuộc chủ yếu vào ngành công nghiệp chế tạo, thay vào đó là các ngành phi công nghiệp. Ngày nay, ở nhiều quốc gia, khu vực dịch vụ và kinh tế tri thức đã trở nên quan trọng hơn và chiếm tỷ lệ lớn hơn so với khu vực công nghiệp chế tạo.

Từ nông nghiệp tới công nghiệp

Từ xa xưa, đa phần mọi người đều làm nông. Cho đến gần dây, khoảng nửa sau của thế kỷ 19, gần 3/4 dân số thế giới làm nông nghiệp, kể cả ở các quốc gia phát triển. Trước hết, tư liệu sản xuất được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu, và sau đó để cung ứng ra bên ngoài khi nhu cầu đã được đáp ứng đầy đủ. Cho đến thế kỷ 20, nông nghiệp vẫn là một ngành sử dụng nhiều lao động. Ngày nay, ở các quốc gia giàu có, chỉ có khoảng 2-3% dân số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nguồn lao động dần chuyển dịch sang các ngành sản xuất khác.

Ngay cả khi phần đông dân số làm nông, nông nghiệp chưa bao giờ chiếm quá nửa GDP của một quốc gia. Việc nông nghiệp chiếm quá nhiều tỷ trọng trong GDP không đem lại hiệu quả kinh tế, bởi lương thực thực phẩm cần phải rẻ ở mức mọi người đều mua được. Ở những quốc gia giàu có, nông nghiệp hiện tại chỉ chiếm khoảng 1-2% GDP. Điều này không phải do chúng ta không sản xuất được nhiều lương thực – đó là bởi các yếu tố đóng góp vào GDP khác đã tăng lớn hơn nhiều.

Rời bỏ đồng ruộng…

Trước khi máy móc nông nghiệp ra đời, việc gieo hạt, làm có dại, bón phân và thu hoạch là những công việc nặng nhọc. Khi nông nghiệp dần được cơ khí hóa, người ta mới có điều kiện để làm những công việc khác, chẳng hạn như sản xuất chế tạo. Ở Anh, sự chuyển biến từ nông nghiệp sang công nghiệp bắt đầu từ cuộc Cách mạng công nghiệp vào thế kỷ 18 và 19, khi máy cày, máy gieo hạt và máy bừa hoạt động hiệu quả thay thế công việc chân tay. Sự phát triển của cơ khí trong sản xuất chế tạo đã khiến những người làm nông mất việc rời đến các thành phố đế làm việc hàng giờ trong các công xưởng.

Vào giữa thế kỷ 20, cơ khí hóa đã lại một lần nữa bùng nổ và làm giảm hơn nữa công việc của người làm nông. Song song với nó là sự tăng trưởng vượt bậc trong ngành sản xuất chế tạo hậu Thế chiến II, vừa nhằm tận dụng nguồn nguyên vật liệu và công nghệ mới, vừa để phục vụ những người giàu có mới nổi và đầy lạc quan. Vào thập niên 1950 & 1960, ngành công nghiệp chế tạo đạt đến đỉnh cao ở Tây Âu và Mỹ, và thu hút gần 40% dân số.

… và rời bỏ nhà máy

Cơ khí hóa đã giải phóng con người khỏi những việc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” trên những cánh đồng, nên sau đó, nó cũng giải phóng họ khỏi những công việc lặp đi lặp lại trong các nhà máy. Cơ khí hóa trong nhà máy đã cho phép các nhà sản xuất tạo ra sản phẩm chất lượng cao hơn và tốn ít nhân công hơn rất nhiều, ít nhất là ở các nước phát triển. Hiện nay, ở hầu hết các nước giàu có, chỉ có khoảng 10% dân số làm công việc chế tạo. Đài Loan (28%) và Đức (20%) là hai trường hợp ngoại lệ.

Trong các nền kinh tế đang phát triển, sức người vẫn là một nguồn lực rẻ phục vụ công nghiệp chế tạo. Rất nhiều hàng hóa chúng ta mua tại các nền kinh tế phát triển được sản xuất trong các xưởng và nhà máy ở những nơi mà nhân công có giá rẻ hơn việc cơ khí hóa. Một vài quy trình sản xuất quá khó, hay thậm chí không thể cơ khí hóa – chủ yếu được thực hiện ở các khu vực có nguồn cung lao động dồi dào và giá rẻ.

Vẫn tiếp tục sản xuất

Những năm đầu thập niên 1980, công nghiệp chế tạo chiếm tới 57% thương mại toàn cầu; giai đoạn 1998-2000 con số này đã tăng lên 78%. Trong khoảng năm 2009-2011, tỷ lệ này lại sụt giảm, song vẫn cao hơn trước đó ở mức 69%. Vì thế, công nghiệp chế tạo vẫn là một phần quan trọng trong tổng thể nền kinh tế, ngay cả khi chỉ có ít người làm việc trong lĩnh vực này.

Với việc chỉ có 10% dân số làm việc trong ngành công nghiệp chế tạo và 3% trong ngành nông nghiệp, phần lớn người lao động ở một quốc gia phát triển có cơ hội làm việc trong các ngành công nghiệp khác. Rất nhiều người tham gia ngành dịch vụ: du lịch, giáo dục, luật, y dược, ngân hàng, bán lẻ, v.v. Các ngành công nghiệp dịch vụ không tạo ra thứ gì mới, song nó tái định hình một vài khía cạnh của nền kinh tế, bằng cách “gia tăng giá trị” cho một chiếc bánh chẳng hạn, bán chiếc bánh đó trên một cái đĩa đẹp trong một quán cà phê. Rất nhiều ngành dịch vụ cho đến nay vẫn cần nhiều lao động.

KHU VỰC CÔNG NGHIỆP SỐ 1, 2 VÀ 3

Khu vực công nghiệp thứ nhất sử dụng các nguyên vật liệu thô: khai thác kim loại từ lòng đất, khoan dầu mỏ, v.v.
Khu vực công nghiệp thứ hai xử lý các nguyên liệu thô để chế biến chế tạo, chẳng hạn như biến kim loại thành xe hơi và bột mì thành bánh mì và bánh gato.
Khu vực công nghiệp thứ ba không tạo ra các sản phẩm vật chất, nhưng cung cấp dịch vụ. Ví dụ như vận chuyển những chiếc xe khắp nơi, bán bánh trong tiệm cà phê, và duyệt các khoản vay để mở quán cà phê.

Liệu đó có phải là một ý kiến hay?

Trong rất nhiều trường hợp, các nền kinh tế phát triển đã chuyển nhiều hoạt động sản xuất ra nước ngoài, nơi giá đất và giá nhân công rẻ hơn. Trong một vài trường hợp, họ còn chẳng tham gia hoạt động sản xuất, mà chỉ hợp vào các nhà sản xuất để bán tại các thị trường phương Tây. Có những đồ từ quần áo và hàng điện tử, chẳng hạn, được sản xuất ở Tây Âu hoặc Mỹ; còn phần lớn đều được sản xuất ở châu Á, nơi được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. Sự phụ thuộc của GDP các nền kinh tế phương Tây vào ngành công nghiệp dịch vụ cũng được thôi, nhất là khi các nền kinh tế đó vẫn hoạt động ổn. Thậm chí, ngành dịch vụ còn khiến người ta thấy đó là một nền kinh tế sạch và tinh tế. Cám ơn nhiều, vì chúng tôi không phải chứa các nhà máy gồm gớm ghiếc và bẩn thỉu; chúng tôi có thể sống nhờ ngành ngân hàng, bất động sản và bảo hiểm.

Nhưng, liệu điều đó có khả thi? Khủng hoảng tài chính năm 2008 đã cho thấy một nền kinh tế phụ thuộc vào ngành công nghiệp dịch vụ dễ bị tổn thương như thế nào. Nó đặc biệt dễ tổn thương khi thực tế rất nhiều dịch vụ – đối với đa số mọi người – đều không có thực: khi họ bán các “sản phẩm” tài chính không có liên hệ thực tế với bất cứ một thứ gì trong thế giới thực, ví dụ như chứng khoán phái sinh, hợp đồng tương lai và các gói tái bảo hiểm. Khủng hoảng toàn cầu không xảy ra vì chúng ta không sản xuất đủ lương thực, sản xuất đủ xe hơi, chăm sóc đủ bệnh nhân trong các bệnh viện hay vận hành đủ các khách sạn. Tất cả những ngành công nghiệp ấy vẫn làm đúng việc mà nó vẫn làm suốt bao lâu nay, và vẫn rất hiệu quả.

VẪN NGHỀ ĐÓ, NHƯNG KHÁC NGÀNH

Trong những năm gần đây, rất nhiều tổ chức đã bắt đầu thuê ngoài những dịch vụ không thuộc lĩnh vực chủ đạo của họ. Ví dụ, một xưởng may thuê ngoài một công ty cung cấp dịch vụ ăn uống cho căng-tin và thuê một công ty vệ sinh làm công việc dọn dẹp. Khi xưởng may tuyển đầu bếp hay lao công, công việc của họ là một phần của ngành công nghiệp chế tạo. Khi những người này làm việc cho một công ty cung cấp vệ sinh tuyển dụng, thì lúc này, công việc của họ là thuộc về ngành dịch vụ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *